Home / Uncategorized / Resampling một hình ảnh

Resampling một hình ảnh

 

Hầu hết các chương trình ảnh cho phép bạn chỉnh sửa độ phân giải của ảnh, quá trình này gọi là Resampling. Nếu bạn scan tem với 300 dpi và cần một bản sao 90 dpi để đăng tải lên website thì thao tác này rất cần thiết. Chú ý rằng resampling với độ phân giải thấp hơn sẽ tiến hành rất tốt, nhưng với độ phân giải cao sẽ khó được theo yêu cầu mong muốn. Vì chương trình resampling phải tạo ra chi tiết mới. Giả sử bạn Resampling một ảnh 100 dpi đến 300 dpi. Hình ảnh mới sẽ có 3 pixel cho mỗi pixel trong ảnh gốc, do đó các pixel sẽ được thêm vào theo “dự đoán”, quá trình này tương tự như thao tác tự suy độ phân giải mà đã được đề cập ở trong phần “Chức năng của máy Scan” ở trên.

Khi resampling một ảnh cần nhớ phải luôn luôn lưu ảnh đc resampling dưới một tên mới, để đảm bảo các tập tin ban đầu vẫn còn.

Định dạng tập tin

Khi lưu bản sao của ảnh đã scan, bạn sẽ có nhiều lựa chọn định dạng tập tin.Định dạng Windows Bitmap (BMP) được sử dụng rộng rãi, đặc biệt là những người dùng hệ điều hành Windows. Có lẽ định dạng tập tin phổ biến nhất là Tagged Image File Format (TIF). Trừ khi bạn có một lý do cụ thể để sử dụng một định dạng tôi e rằng bạn có thể sai lầm trong việc dùng BMP hoặc TIF. Các tập tin xuất ra tương đối lớn, nhưng sẽ không có vấn đề gì vì các ổ đĩa cứng hiện nay có dung lượng rất lớn. Bạn cũng có thể sử dụng định dạng riêng cho chương trình đồ họa của bạn nếu bạn thích, nhưng điều này có thể hạn chế mức độ chia sẻ các tập tin hình ảnh với những người khác mà không phải chuyển đổi sang định dạng khác.

Các định dạng để tải lên web thì rất ít. Hiện nay chỉ có ba định dạng tập tin đồ họa được hỗ trợ rộng rãi trên Internet:Graphical Interchange Format (GIF), Joint Photographic Expert Group (JPG) format và Portable Network Graphics (PNG).

Định dạng GIF có thể dùng với chế độ ảnh 256 màu và Gray Scale. Vì số lượng tem nhiều và cũ, được in hạn chế màu sắc nên định dạng GIF là hoàn toàn phù hợp. Khi mục đích là hiển thị trung tâm và lỗ của con tem thì GIF sẽ thao tác hoàn thành tốt. Lợi thế của nó trong hơn các định dạng JPG và PNG là kích thước tập tin thường nhỏ hơn. Các tập tin GIF được nén để tiết kiệm không gian bằng cách sử dụng chương trình nén miễn phí, có nghĩa là ảnh xuất ra sẽ giống y bản gốc.

Làm sao một tập tin GIF, chỉ với 256 màu có thể đạt chuẩn ảnh? sau đây là cách hoạt động. Khi lưu tập tin GIF, phần mềm sẽ phân tích hình ảnh và chọn dạng 256 màu, từ 16 triệu màu sẵn có mà ảnh sẽ dùng tới (cái này được gọi là bảng màu). Ví dụ, với một con tem có màu đỏ trên nền trắng, bảng màu sẽ có tất cả các sắc thái riêng biệt của màu trắng và đỏ để sao chép. Hãy nhìn ví dụ sau (Japan Scott #195)  để xem ý nghĩa của nó

trên :lưu dưới dạng GIF

dưới: lưu dưới dạng JPG

Với ảnh dạng True Color, bạn phải dùng JPG hay PNG. Một ảnh True Color có thể hiển thị hơn 16 triệu màu khác nhau. Đối với bản sao chính xác con tem với nhiều màu sắc, như nhu cầu của người sử dụng ảnh, bạn phải dùng 1 trong 2 định dạng này.

Định dạng JPG có những phức tạp riêng. Giống như GIF, JPG là một định dạng nén. Không giống như GIF, JPG sử dụng thuật toán nén lossy vì thế một số chi tiết bị mất trong quá trình nén- hay nói cách khác, hình ảnh xuất ra không được chất lượng như bản gốc. Khi bạn lưu ảnh dưới dạng JPG, bạn phải xác định mức độ nén để sử dụng. Kết quả là tập tin được nén trong một file nhỏ hơn và chất lượng hình ảnh cũng thấp hơn. Tại các mức độ nén thấp hơn sẽ có  chất lượng cao hơn, bạn có thể tham khảo các ảnh dưới đây.

Những ảnh sau đưa ra ý tưởng về các mức ảnh hưởng của mỗi cấp độ khác nhau của dạng nén JPG. Tôi đã dùng một chương trình nén từ cấp độ 1 đến 99… Lưu ý rằng các chương trình đồ họa khác nhau phân chia giới hạn nén khác nhau.

cấp độ nén 15- 15 KB

Cấp độ nén 40 – 8.5 KB

cấp độ nén 90 – 3.1KB

Bạn phải quyết định mức độ phù hợp với nhu cầu nén và hạn chế kích thước tập tin. Mức độ nén 90 rõ ràng là không phù hợp, trong khi một mức độ 40 khá ổn để sử dụng vào mục đích không quan trọng. Nén ở mức độ 15 chắc chắn cho ra hình ảnh hấp dẫn và chi tiết nhất, nhưng với kích thước tập tin khá lớn.
Mặt khác các tập tin JPG, được gọi là sự mất các chi tiết. Nếu bạn mở, chỉnh sửa và lưu một tập tin JPG nhiều lần, chất lượng bị mất dần qua mỗi lần do các thủ tục nén. Điều này hiếm khi gây ra vấn đề lớn, nhưng bạn mở và lưu hình ảnh nhiều lần, bạn có thể lưu nó trong một định dạng khác, chẳng hạn như TIF hay BMP, và sau đó lưu nó dưới định dạng JPG ở lần cuối.

Định dạng tập tin thứ ba để tải lên Web tương đối mới, PNG (Portable Network Graphics), được hỗ trợ nhiều. PNG kết hợp dạng nén GIF với màu JPEG hỗ trợ 24 bit. Với nhiều người sử dụng, JPG vẫn được đánh giá cao hơn PNG vì kích thước tập tin. Sử dụng một mức độ nén thấp JPG thường cho chất lượng hình ảnh chấp nhận được với một kích thước nhỏ hơn đáng kể hơn so với PNG.

Kích cỡ ảnh và độ phân giải

Kích thước và độ phân giải của ảnh kỹ thuật số rất dễ nhầm lẫn. Phần này sẽ làm rõ sự khác biệt của chúng. Lưu ý những ý kiến sau chỉ áp dụng cho ảnh số được bitmap, đó là dạng ảnh mà bạn phải dùng tới khi sử dụng máy scan hay máy ảnh kỹ thuật số. Hình ảnh vector là một vấn đề khác và không liên quan tới những thao tác này.

Đầu tiên, bạn phải biết là một hình ảnh số không có kích thước vật lý. Khi nói tới một hình ảnhkỹthuậtsố, đề cập đến 4x6incheslà vô nghĩa. Suy cho cùng , hình ảnh chỉ làmột tập hợp cácpixelảnhđượclưutrữtrong bộ nhớ hoặctrênđĩa cứng của. Tuynhiên, một hình ảnhkỹthuậtsốcó mộtkích thước pixel-số lượng pixel ảnhtheo chiều ngang vàtheo chiều dọc. Đây chỉ là “kích cỡ”vốn có trongbất kỳ hình ảnhkỹthuậtsốđược bitmap.

Tuy nhiên phải chỉ định rõ kích thước vật lý với một hình ảnh kỹ thuật số. Giả sử rằng bạn scan một bưu thiếp 4×6 inch. Nếu hình ảnh xuất ra được chỉ định kích thước 4×6 inch “, thì những người xem hình ảnh sẽ biết kích thước thực tế của tấm bưu thiếp. Nó cũng có nghĩa rằng khi bạn in hình ảnh ở kích thước “bình thường”, nó sẽ in ở kích cỡ này (ít nhất là với tất cả các phần mềm tôi đã thấy). Tất cả các tập tin hình ảnh kỹ thuật số bao gồm kích thước thông tin này với một hình ảnh. Hình ảnh scan được chỉ định một kích thước vật lý tương ứng với kích thước thực tế của cùng scan – sao cho hoàn chỉnh nhất.

Tiếp theo, độ phân giải thường được thể hiện trong mỗi pixel ảnh trên một inch (ppi, đôi khi được gọi là pixel trên mỗi inch hoặc DPI). Có lẽ bạn cũng biết một khi ảnh số được chỉ định một kích thước nó sẽ tự động có độ phân giải. Dưới đây là công thức cho độ phân giải ngang:

pixel ảnh ngang trên mỗi inch = (số pixel ảnh ngang) / (kích thước ngang theo inch)

Lưu ý rằng độ phân giải theo chiều dọc có thể là khác nhau so với độ phân giải ngang, nhưng thường thì nó đều giống nhau.

Khi bạn đang scan, nó sẽ hoạt động. Có hai điều mà bạn có thể kiểm soát. Một là kích thước vùng đang scan – một con tem, phong bì,.. Còn lại là độ phân giải được sử dụng trong quá trình scan. Với một số phần mềm scan, bạn nên thiết lập độ phân giải trực tiếp – ví dụ như 96 dpi hay 150 dpi. Với các phần mềm khác, bạn chọn kiểu của tài liệu scan (màu sắc tài liệu, màu ảnh,…) và dùng nó cho các mục đích khác nhau (in ấn, tải lên web), từ đó các chương trình sẽ lựa chọn độ phân giải tốt nhất cho từng trường hợp. Trong bất kỳ trường hợp nào, khi bạn thực hiện scan, tập tin xuất ra được thiết lập bởi kích thước pixel như sau:

Số lượng pixel ảnh ngang = (pixel ngang ảnh trên mỗi inch) x (kích thước chiều ngang theo inch)

Vì vậy, nếu bạn scan vùng ảnh 4×6 inch với 150 ppi, hình ảnh xuất ra sẽ có kích cỡ 600×900 pixel (4×5=600, 6×150=900).

Còn các ảnh kỹ thuật số mà không giống như ảnh scan, không có một kích thước vật lý thì sao? Những hình ảnh này được gán một độ phân giải tùy ý bằng máy ảnh hay phần mềm. Ví dụ, khi tôi mở ảnh từ máy ảnh kỹ thuật số bằng PhotoShop, nó được gán cho độ phân giải là 72 dpi. Nhưng nếu ảnh là 2560×1920 pixel, kích cỡ vật lý khi xuất ra khoảng 36×26 inch. Tuy nhiên, kích cỡ này về cơ bản mà nói thì không có ý nghĩa gì.

Trong chương trình đồ họa của bạn, bạn có thể thay đổi bất kỳ ba thông số kích thước hình  ảnh: kích thước vật lý, kích thước pixel và độ phân giải. Vì tất cả 3 điều trên có liên kết với nhau, thay đổi bất kỳ thông số nào thì những thông số còn lại cũng phải đổi theo. Hãy xem một ví dụ qua ảnh sau:

Kích thước: 4×6 inch

Kích thước pixel: 400×600

Độ phân giải: 100 ppi (pixel per inch)

Giả sử bạn muốn đổi qua kích thước 8×12 inch. Để làm điều này, bạn phải làm một trong những điều sau:

  • Thay đổi độ phân giải pixel 800×1200 (độ phân giải vẫn còn ở mức 100 ppi)
  • Đổi độ phân giải qua 50 ppi ( kích thước pixel vẫn là 400×600)

Chương trình đồ họa sẽ thao tác tự động những điều chỉnh này, tuy nhiên bạn cũng phải cài đặt thay đổi kích thước pixel hay độ phân giải. Chú ý rằng quá trình thay đổi kích thước pixel của ảnh được gọi là Resampling. Tính năng này đã được đề cập ở phần trên. Những hướng dẫn cụ thể để thực hiện thao tác này thì có sự khác  biệt ở những chương trình đồ họa khác, nhưng về khái niệm thì chúng như nhau. Đây là hộp thoại kích thước ảnh trong Photoshop:

Quá trình Resampling ảnh được điều khiển bởi tùy chọn Resample Image. Nếu tùy chọn được chỉnh:

  • Thay đổi kích thước pixel của chiều rộng hay chiều cao trong khi độ phân giải không thay đổi.
  • Thay đổi độ phân giải, kích thước pixel trong khi chiều rộng và chiều cao không đổi.
  • Thay đổi kích thước pixel, chiều rộng và chiều cao trong khi độ phân giải không thay đổi.

Nếu tùy chọn Resample Image bị tắt, bạn sẽ không thể thay đổi kích thước pixel. Thay đổi chiều rộng hay chiều cao cũng làm thay đổi độ phân giải và ngược lại.

Như Thảo-www.dv-vanphong.com

Check Also

Key Aspects For Russian Brides – An A-Z

Marriage is one of the most essential experiences of a person’s life, however like every …